Đồng bộ

các dân tộc ở đồng bằng nam bộ

Chương 2 
CÁC DÂN TỘC Ở NAM BỘ VÀ PHONG TỤC TẬP QUÁN RIÊNG 

Nam Bộ là vùng đất cuối cùng của Tổ Quốc.Từ hơn 300 năm qua, vùng đất mới này đã đón nhận nhiều cộng đồng cư dân đến sinh sống, trong đó chiếm đa số là người Việt, người Khơme , người Hoa và người Chăm. Địa bàn cộng cư này cũng đã tạo nên mối quan hệ, giao lưu văn hoá trên nhiều lĩnh vực. Chính sự giao lưu này đã tạo nên phong tục đặc thù ở Nam Bộ. Phong tục là một mảng đề tài rất đa dạng. nó được tạo nên bởi nhiều yếu tố khác nhau. Nhưng vì thời gian có hạn nên chúng tôi sẽ đề cập đến các tục lệ đặc trưng của vùng như: lễ đón xuân, nghi thức hôn lễ của người Chăm ở An Giang, nét tính cách của người Nam Bộ. 
Nét tính cách của người Nam Bộ: Do nguồn gốc lịch sử, hoàn cảnh sống và tác động của môi trường thiên nhiên đã hình thành nên tính cách của người Nam Bộ. Ngoài tính hiếu khách, tính bộc trực mạnh mẽ, hào phóng và đôn hậu. Người Nam Bộ còn biết bao nét đẹp truyền thống đáng trân trọng như: tính nghĩa khí hào hiệp, tấm lòng nhân hậu, bao dung, tư chất thông minh và giàu nghị lực. Đặc biệt: phụ nữ miền Nam rất đổi vị tha, dịu dàng mà lại khéo tay, chìu chuông nhưng đáng quý nhất là sự hy sinh cho chồng con, cho quê hương Đất nước. Điều đó được chứng minh suốt quá trình hơn 300 năm lịch sử của Nam Bộ. 

Về trang phục của những con người vùng đất Nam Bộ bên cạnh người kinh quen với đồng án, lúa nước lại chọn khăn rằn quấn cổ và áo nâu sòng, quần đen thanh thoát trên những đồng lúa hay trên sông nước ngày xưa. Đặc biệt là chiếc áo bà ba là nét đặc trưng của người kinh ở Sài Gòn xưa và Đồng bằng sông Cửu Long. nó tạo thành nét đẹp duyên dáng đậm đà của người dân Nam Bộ xưa và nét đẹp đó còn tồn tại đến tận ngày nay. Giữa quê hương miền Nam hai mùa mưa nắng, không biết tự bao giờ chiếc áo bà ba hiện hữu, đồng hành với người phụ nữ Nam bộ như một thứ y phục đặc trưng cho tính cách thuần hậu, dịu dàng của họ. Dường như khi nhìn những đường nét mộc mạc của chiếc áo bà ba, ta cảm nhận đó là một thứ ngôn ngữ im lặng ký thác một phẩm hạnh, một giá trị vĩnh cửu của người phụ nữ Việt Nam nói chung và phụ nữ Nam bộ nói riêng. Áo thấp thoáng trên những nhịp cầu tre lắt lẻo, mềm mại trên những chuyến đò ngang trên xuồng ba lá và bay bổng, lãng mạn quyện hòa trong những điệu lý con sáo, lý cây bông…Khăn rằn – nón lá – áo bà ba đã trở nên một liên kết, tạo dựng một biểu trưng hoàn mỹ cho vẻ đẹp tâm hồn thuần khiết của người phụ nữ Việt Nam. 
Trong nhân gian còn lưu truyền câu “ăn mặn nói ngay” để nói tính cách của người miền Nam. Vì họ là những lưu dân đến đây chủ yếu bằng đường biển, suốt hành trình lênh đênh giữa sóng to gió lớn để chống lại giá rét, những cơn cuồng nộ của biển cả… buộc họ phải tìm cách bảo đảm mạng sống và sinh tồn. 
Một đặc tính của người miền Nam là luôn chân tình, cởi mở và dễ hoà mình. “Hiếu khách” là nét đặc trưng là cá tính độc đáo của người miền Nam. 
Với tính cách của người miền Nam như vậy nên tục đón xuân của họ cũng có biết bao điều kì lạ và hấp dẫn. Người ta thường chuận bị đón tết rất sớm. Mỗi gia đình nông dân đều giành một nủă thửa ruộng để cấy một giống nếp ngon làm bánh trong ngày tết. Khi mùa màng thu hoạch xong thì không khí tết rộn lên trong tiếng chày quếch bánh. 
Trong ngày tết cành mai là không thể thiếu trong mỗi gia đình miền Nam. Ngày tết thường có nhiều trò vui đặc biệt như: đá gà , đá cá lia thia…những lễ tục phiền toái lãng phí xa hoa tốn kém thời giờ và tiền của hay mang tính chất mê tín dị đoan đều được nhân dân tự giác loại bỏ. 
Chính vì nơi cư trú của nhiều dân tộc nên ở vùng đồng bằng bên cạnh dân tộc Kinh còn có các dân tộc khác chung sống lâu đời ( Chăm, Khơme, người Hoa , người Xtiêng…) vẫn còn lưu giữ được những văn hoá nghệ thuật phong tục tập quán mang sắc thái riêng. 
Trên các cao nguyên xếp tầng và các vùng núi cao có nhiều dân tộc ít người sinh sống: Gia Rai, Ê Đê, Xu Đăng… Tuy trình độ phát triển kinh tế vẫn còn hạn chế song giữu gìn đượ những bản sắc dân tộc riêng với nền văn hoá nghệ thuật dân gian độc đáo. Đó là những nhạc cụ như: đàn trưng, đàn đá, đàn krông put, cồng chiêng….. 

1 . Người Hoa 
Hơn 900.000 người Hoa ở Viêt Nam phần lớn là cư trú ở Nam Bộ. Riêng thành phố Hồ Chí minh có đến 400.000 người. Đây chỉ tính số người Hoa vào Việt Nam từ thế kỷ này, còn trước đó cũng có khá nhiều nhưng phần lớn đã bị Việt hoá. Họ thuộc “ngủ bang” vùng Hoa nam: quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam và Hẹ. Làm nhiều nghề khác nhau: công nghiệp, nông nghiệp, thủ công nghiệp, công nhân, viên chức, giáo viên, buôn bán… Có truyền thống trồng lúa nước và nổi tiếng về các nghề gia truyền.Ở miền Nam từng có một thời không có đường phố nào mà lại không có các tiệm chạp phố của người Hoa. Họ bán rất nhiều loại hàng hoá: từ cây kim, sợi chỉ cho đến tương, chao…Chợ Lớn – Sài Gòn ngày nay cũng là một trung tâm tiểu thủ công nghiệp lớn. 
Vào nhà người Hoa cái đập ngay vào mắt là những bàn thờ ngoài sân, trong nhà, trên cao, dưới đất…Ngoài việc thờ cúng tổ tiên gia đình người Hoa còn thờ nhiều vị thần bảo trợ: Thần tài phù hộ làm ăn, thổ địa quản lí đất đai, Táo quân ghi chép mọi việc để cuối năm lên thiên đình báo cáo…Tuy vậy không thể nói tính cách người Hoa thiên về tín ngưỡng. Dân tộc này sống rất thực tế. Họ chỉ muốn tất cả các mối quan hệ giữa họ với tất cả mọi người cũng như giữa họ với thần linh đều hữu hảo để họ có thể dễ bề làm ăn 
Về phong tục tập quán của người Hoa : Ở nhà ba gian, hai chái, sống gắn bó với nhau trong một khu vực. Các gia đình trong cùng dòng họ quây quần bên nhau. Người cha là chủ gia đình. Con trai được thừa kế gia tài và con trai cả được phần hơn. Thờ cúng người chết tại nhà. Trong thôn xóm đều có chùa, đền, miếu để thờ cúng. Hôn nhân của con do cha mẹ quyết định trên cơ sở tương đồng về hoàn cảnh kinh tế và địa vị xã hội. Việc ma chay phải qua rất nhiều thủ tục nghiêm ngặt. 

2 . Người Khmer 
Tập trung nhiều ở hai tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng và các huyện dọc biên giới ở châu Đốc. NHà của người Khơme hầu hết là nền đất, lợp lá không khác gì nhà của người Việt. Và nhiều nhà thành một “phum”. “Sóc” gồm nhiều “phum” tương đương như làng xã của người Việt. 
Ở Nam Bộ bạn có thể gặp ngưòi Hoa khắp nơi: Họ là chủ những quán ăn, chủ tiệm tạp hoá… nhưng người Khơme thì ít thấy mặc dù họ đông không kém người Hoa. Bởi lẽ người Khơme có khuynh hướng sống khép kín trong “Sóc” xa thành phố.

Đang xem: Các dân tộc ở đồng bằng nam bộ

Xem thêm: Những Phần Mềm Random Chữ – Phần Mềm Random Word Generator Windows

Xem thêm: Tạo Đăng Nhập Cho Web WordPress Hỗ Trợ Login Miễn Phí Và Có Phí

Khi so sánh thì hai dân tộc này hầu như có nhiều tính cách tương phản nhau: 
Người hoa: năng nổ, thích làm giàu, giỏi buôn bán và nhiều ngành nghề. 
Người Khơme: Có vẻ an phận thủ thường, chỉ là những người nông dân, kĩ thuật vẫn còn đơn giản. 
Chiếc sà rông của người Khơme ngày chàng ít thấy trừ trong ngày cưới vì đó là trang phục bắt buộc của chú rể. Thường ngày nam cũng như nữ đều mặc bà ba đen và quấn khăn rằn. Trong dịp lễ tết họ mặc áo bà ba trắng , quần đen (hoặc áo đen , quàng khăn quàng trắng chéo , ngang hông vắt lên vai trái .Trong đám cưới chú rể thường mặc bộ “ xà rông “ (hôl ) và áo ngắn bỏ ngoài màu đỏ . Đây là áo ngắn sẻ ngực cổ đứng ngoài cúc , quàng khăn trắng vắt qua vai trái và đeo thêm “con dao dưới “ ( kầm pách ) với ý nghĩa bảo vệ cô dâu Thanh niên hiện nay khi ở nhà không mặc áo và quấn chiếc “xà rông” kẻ sọc .. Chùa Khơme nào cũng có những căn nhà danh cho “ những ông sư trẻ” tạm thơì này. Về phụ nữ cách đây khoảng 30 – 40 năm họ thường mặc chiếc “ Xăm pốt “ ( váy ) đó là loại váy bằng tơ tằm hình ống ( kín ) Chiếc váy điển hình là loại xăm pốt chân khen , một loại váy hở quấn. Nam giới đến tuổi trưởng thành phải vào chùa tu một thời gian thì mới được xã hội nhìn nhận . Gia đình phụ quyền nhưng đàn bà vẫn được tôn trọng, đối xử bình đẳng. Họ theo truyền thông phật giáo tiểu thừa khi chết thì hoả thiêu bởi “sóc” Khơme không có nghĩa địa. 
Về phong tục tập quán : Theo đạo Bà La Môn, đạo Phật dòng tiểu thừa. Sùng kính đạo Phật. Thanh niên trước khi trưởng thành thường đến chùa tu học để trau dồi đức hạnh và kiến thức. Nhà ở lợp bằng lá dừa nước, ít nhà lợp ngói. Có tiếng nói và chữ viết riêng. Sống xen kẽ với người Kinh, Hoa trong các phum, sóc, ấp. Các ngày lễ lớn là lễ Chôn Chơ Nam Thơ Mây (năm mới), lễ Phật Đản, lễ Ðôn Ta (Xá tội vong nhân), lễ hội Ooc-Om-Bok (cúng trăng).

3 . Người Chăm 
Hiện nay ở vùng Nam Bộ có khoảng 12 000 người ( thống kê 1999 ) tập trung chủ yếu ở An Giang , Đồng Nai , TP Hồ Chí Minh và miền cực Đông Nam Bộ . Ngôn ngữ chính thuộc hệ Mã Lai – Đa Đảo. Hầu hết người Chăm theo đạo Hồi (nhóm Bà Ni và nhóm Ixlam) và đạo Bà La Môn (chiếm 3/5 dân số). Duy trì chế độ mẫu hệ, con gái theo họ mẹ. Nhà gái cưới chồng cho con, con trai ở rể. Con gái được thừa kế tài sản, con gái út phải nuôi dưỡng bố mẹ. Nhà ở quay mặt về phía nam hoặc tây. Múa hát dân tộc Chăm rất nổi tiếng. 
Các lễ hội dân gian truyền thống tiêu biểu của người Chăm đó là: lễ hội Katê (tưởng niệm đấng cha – lễ hội lớn nhất, vui nhất của người Chăm theo đạo Bà La Môn) ; lễ hội Ramưwan – lễ hội điển hình nhất về lễ nghi ở thánh đường của người Chăm theo đạo Hồi; lễ hội Tháp Bà (tưởng niệm nữ thần Mẹ Xứ sở) đến từ Nha Trang – Khánh Hòa; lễ mừng sức khỏe, lễ múa tống ôn đầu năm, lễ cưới của người Chăm An Giang… 
Trang phục Chăm, vì có nhóm cơ bản là theo đạo Hồi nên cả nam và nữ lễ phục thiên về màu trắng. Có thể thấy đặc điểm trang phục là lối tạo hình áo (khá điển hình) là lối khoét cổ và can thân và nách từ một miếng vải khổ hẹp (hoặc can với áo dài) thẳng ở giữa làm trung tâm áo cho cả áo ngắn và áo dài. Mặt khác có thể thấy ở đây duy nhất là dân tộc còn thấy nam giới mặc váy ở Việt Nam với lối mang trang phục và phong cách thẩm mỹ riêng 

4 . Người Xtieng ( Xa Điêng) 
Dân số khoảng 66 788 người ( 1999 ) địa bàn cư trú chủ yếu ở phía bắc tỉnh Bình Dương và một phần của tỉnh Tây Ninh và Đồng Nai. Thuộc nhóm ngôn ngữ chính là Môn – Khmer.Người Xtiêng là một dân tộc rất đam mê âm nhạc và nhạc cụ của họ là bộ chiêng 6 cái , cồng , khèn , bầu. 
Trang phục : Nữ mặc váy, nam đóng khố. Mùa đông choàng thêm tấm vải. Họ để tóc dài búi sau gáy, tai xâu lỗ, xăm mặt, xăm mình. Ðeo nhiều loại trang sức làm bằng gỗ hoặc ngà voi. 
Phong tục tập quán :Ðứng đầu là già làng am hiểu tập tục, có uy tín, tháo vát. Họ sống định canh định cư theo từng gia đình. Tin vào sức mạnh huyền bí của sấm sét, trời đất, trăng, mặt trời. Tính tuổi theo mùa rẫy. Trong hôn nhân, họ lấy vợ lấy chồng khác dòng họ. Cô dâu về ở nhà chồng ở sau ngày cưới. 
5 . Người Chơ Ro ( Châu Ro , Đơ Ro ) 
Dân số khoảng 22 567 người tập trung chủ yếu ở Đồng Nai , Bà Rịa – Vũng Tàu và các tỉnh cực Đông Nam Bộ , ngôn ngữ thuộc nhóm Môn-Khmer gần với tiếng Mạ , Xtiêng. Đa số người dân Châu Ro sống bằng nghề làm nương rẫy nhiều nơi phát triển về trồng lúa nước, chăn nuôi , săn bắt , đánh cá , nghề thủ công là đan lát, làm các đồ dùng bằng tre, gỗ. 
Phong tục tập quán : Coi trọng chế độ mẫu hệ và phụ hệ như nhau. Người Chơ Ro tin mọi vật đều có “hồn” và các “thần linh” chi phối con người, khiến con người phải kiêng kỵ và cúng tế. Lễ cúng “thần rừng” và “thần lúa” là quan trọng. Trước đây sống ở nhà sàn, hiện nay họ đã ở nhà trệt. 
Trang phục : Mặc như người Kinh trong vùng. Nữ thích đeo các vòng đồng, bạc, dây cườm… 
– Ngoài những dân tộc thiểu số sống ở Vùng đồng bằng Nam Bộ như đã kể trên đã góp phần làm tăng nét phong phú của Văn hóa Việt Nam về các mặt : phong tục tập quán, lễ hội , âm nhạc , trang phục . Còn có phần lớn người Kinh sinh sống và làm ăn lâu đời ở đây tạo nên sắc thái pha trộn giữa những nềnVăn hóa riêng biệt thành một nền Văn hóa chung – Văn hóa Nam Bộ . 

Show More

Related Articles

Back to top button
Close