Đồng bộ

Các Điều Kiện Có Hiệu Lực Của Hợp Đồng

Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015 quy định phải có đủ 4 điều kiện sau đây mới xác định giao dịch dân sự có hiệu lực:

1. Điều kiện thứ nhất là chủ thể tức là các bên xác lập giao dịch:

Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập. Ở điều kiện này, để xem xét đủ điều kiện hay không ần quan tâm đến 2 yếu tố:

Yếu tố thứ nhất là phải xem độ tuổi của người xác lập giao dịch: Có giao dịch phải xem độ tuổi của 2 bên (mua, bán, vay, mượn, thuê…), nhưng có giao dịch cũng chỉ cần quan tâm độ tuổi của một bên như tặng cho, hứa thưởng, thi có giải… Trên thự tế khi xác định giao dịch dân sự có đảm bảo hay không cần kiểm tra xem người tham gia giao dịch tại thời điểm giao dịch sinh năm mấy, tại thời điểm xác lập giao dịch họ bao nhiêu tuổi, nếu họ đã đủ 18 tuổi trở lên thì đủ điều kiện về độ tuổi thực hiện tất cả các loại giao dịch. Trường hợp dưới 18 tuổi thì cần lưu ý:

*

Quy định về hình thức hợp đồng trong Bộ luật Dân sự

+ Thứ nhất, Luật quy định giao dịch phải xác lập bằng văn bản nhưng các bên lập văn bản không đúng quy định của pháp luật, tuy nhiên một hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó ( khoản 1 Điều 129 BLDS).

Đang xem: Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo bộ luật dân sự 2015

Ví dụ: Điều 14 Luật kinh doanh bảo hiểm quy định hình thức của hợp đồng bảo hiểm phải lập thành văn bản, bằng chứng giao kết hợp đồng bảo hiểm là giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm, điện báo, telex, fax và các hình thức khác do pháp luật quy định, và Điều 13 Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định hợp đồng bảo hiểm phải có những nội dung sau đây:

1. Hợp đồng bảo hiểm phải có những nội dung sau đây:

a) Tên, địa chỉ của doanh nghiệp bảo hiểm, bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng;

b) Đối tượng bảo hiểm;

c) Số tiền bảo hiểm, giá trị tài sản được bảo hiểm đối với bảo hiểm tài sản;

d) Phạm vi bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm, điều khoản bảo hiểm;

đ) Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm;

e) Thời hạn bảo hiểm;

g) Mức phí bảo hiểm, phương thức đóng phí bảo hiểm;

h) Thời hạn, phương thức trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường;

i) Các quy định giải quyết tranh chấp;

k) Ngày, tháng, năm giao kết hợp đồng.

2. Ngoài những nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, hợp đồng bảo hiểm có thể có các nội dung khác do các bên thoả thuận.”

Ví dụ tình huống tranh chấp hợp đồng bảo hiểm có nội dung như sau: Ông A đã nhiều lần mua bảo hiểm tàu biển của Công ty B, lần sau cùng là năm 2019, khi mà bảo hiểm trước đã hết hạn thì ông A tiếp tục nộp tiền mua bảo hiểm người đại diện của Cty B và vì phía người đại diện của CTy B thông bao với ông A rằng mẫu giấy chứng nhận bảo hiểm đã hết nên chưa giao cho ông A kịp, sau khi giao tiền, ông A và đại diện phía Cty B lập một văn bản viết tay theo mẫu in sẵn của Cty B có nội dung thể hiện thời gian ông A giao tiền để mua bảo hiểm cho tàu cá của ông A. Trong thời gian chờ cấp giấy chứng nhận bảo hiểm thì tàu cá của ông A bị cháy.

Phía công ty bảo hiểm không bồi thường cho ông A vì nguyên nhân dẫn đếntàu của ông A cháy thuộc trường hợp “loại trừ trách nhiệm bảo hiểm” và vì hai bên không ký kết hợp đồng theo mẫu, chỉ có văn bản viết tay theo mẫu tạm thời, hình thức của hợp đồng bảo hiểm không đúng pháp luật lên đề nghị Tòa án tuyên giao dịch bảo hiểm trên vô hiệu do vi phạm Điều 13, 14 Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định về hình thức, nội dung của hợp đồng bảo hiểm.

Xem thêm: Bang Xep Hang Game Đấu Trường Sinh Tử Game 24H, Game Trận Chiến Sinh Tử Cực Gay Cấn

Trường hợp trên cần xác định ông A đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ là nộp tiền mua bảo hiểm, đáp ứng yêu cầu theo quy định tại khoản 1 Điều 129 BLDS: ‘văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch…” để xem xét công nhận hợp đồng của hai bên.

+ Thứ hai, Luật quy định giao dịch dân sự phải xác lập bằng văn bản và phải công chứng, chứng thực nhưng hình thức giao dịch vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực, tuy nhiên một hoặc các bên đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó, trong trường hợp này các bên không phải công chứng, chứng thực (khoản 2 Điều 129 BLDS)

Ví dụ: Năm 2017, vợ chồng A thỏa thuận bán cho vợ chồng con trai là anh B 100m2 đất trong vườn ở của mình để anh B làm nhà, theo hình thức họp gia đình, lập biên bản xác định bán cho vợ chồng anh B 100m2 đất để làm nhà, vợ chồng anh B có nghĩa vụ giao cho ba mẹ 50tr để dưỡng già (biên bản gia đình thể hiện rõ bên bán, bên mua, số tiền, thời hạn giao tiền nhưng không được công chứng, chứng thực). Năm 2018, vợ chồng anh B làm nhà, xây hàng rào thành khuôn viên riêng và đã giao đủ 50tr để vợ chồng ông A gửi tiết kiệm tại ngân hàng.

Năm 2019, vợ chồng anh B ly hôn, phía ba mẹ anh B đòi lại đất, cho rằng đất chỉ cho mượn chứ không bán, không lập hợp đồng công chứng, chứng thực như thỏa thuận, trả lại 50tr cho vợ chồng anh B. AnhB đồng ý với quan điểm của cha mẹ, xác định việc mua bán không được công chứng, chứng thực nên xác định chỉ có nhà mới là tài sản của vợ chồng, còn đất là tài sản của cha mẹ, không phải tài sản của vợ chồng. Vợ anh B không đồng ý, và cho rằng đây là tài sản chung của vợ chồng.

Xem thêm: Đồng Bộ Danh Bạ Trên Iphone Ios 12 Lên Gmail Nhanh Nhất Hiện Nay

Trường hợp trên thì bên mua đã giao đủ tiền, làm nhà ở trên đất, bên bán đã giao đất. Theo đó, áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 129 BLDS, xác định “giao dịch đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch” để xem xét việc mua bán đất có hiệu lực.

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button
Close
Close